Một ngày của Đức Phật
Ðức Phật đã thị hiện ra nơi đời, đến với chúng sanh không cần phải bấm đốt ngón tay đây là lần vô lượng thứ mấy. Ngài đến với chúng sanh với tâm từ bi thương cảm. Giúp chúng sanh thấy và ngộ nhập vào biển trí của chư Phật chính là mục đích mà Ngài cũng như vô lượng chư Phật thị hiện ra nơi đời. Ngày ngày Ngài luôn luôn nghĩ về chúng sanh mà hóa độ không mệt mỏi. Có thể nói Ngài luôn luôn bận rộn nhưng trên môi Ngài nụ cười vẫn luôn thường trực, Ngài luôn an lạc giữa cuộc đời, từng phút từng giây. Điều đó thể hiện qua đời sống hành trì chuyên cần hằng ngày của Đức Thiện Thệ.
Đức Phật có thể được xem là vị giáo chủ hoạt động tích cực và nhiệt thành nhất trên thế gian. Ngài luôn luôn bận rộn với công việc đạo pháp trọn ngày, trừ những lúc phải để ý đến vài nhu cầu vật chất. Lịch trình hoạt động của Ngài được sắp xếp rất có qui cũ và mực thước. Đời sống bên trong là tham thiền nhập định và chứng nghiệm hạnh phúc Niết-Bàn, còn bên ngoài là phục vụ vị tha, nâng đỡ phẩm hạnh của chúng sanh trong khắp thế gian. Chính vì có khả năng giác tha nên Đức Phật tận lực cố gắng để giác ngộ người khác và dẫn dắt chúng sanh ra khỏi vòng phiền não của đời sống.
Hoạt động hằng ngày của Đức Phật chia làm năm đoạn:
- Buổi sáng;
- Buổi trưa;
- Canh đầu;
- Canh giữa;
- Canh chót.

Buổi sáng
Thường ngày, lúc còn tản sáng sớm, Đức Phật dùng thiên nhãn để quan sát thế gian, xem có ai cần Ngài tế độ. Nếu thấy có người cần hỗ trợ tinh thần thì không đợi thỉnh cầu, Ngài tự ý đến để dẫn dắt người ấy vào chánh đạo. Ngài đi bộ. Nhưng đôi khi Ngài cũng dùng phép thần thông bay trên không trung. Ngài đến những người hư hèn, ô nhiễm như tên cướp sát nhân hung tợn Angulimala và quỉ Dạ Xoa, bạo tàn ác độc. Nhưng cô bé Visakha có tâm đạo nhiệt thành và nhà triệu phú Cấp-Cô-Độc (Anathapindika) và những bực thiện trí như Xá-Lợi Phất (Sariputta) và Mục-Kiền-Liên (Moggallana) thì tìm đến thọ giáo để được Ngài dẫn dắt.
Trong khi tế độ thế gian, nếu không có ai thỉnh về trai tăng, Đức Phật đi trì bình khất thực trên các nẻo đường, khi một mình, lúc với chúng Tăng. Im lặng đứng trước cửa từng nhà. Không thốt ra một lời, Ngài thọ lãnh vật thực nào mà tâm trong sạch bố thí của thiện tín hoan hỉ sớt vào bát, rồi trở về chùa. Cho đến năm tám mươi tuổi, mặc dầu đau ốm bất thường, Ngài vẫn đi bát trong thành Vesàli.
Đức Phật thọ thực trước ngọ. Sau đó chư vị tỳ kheo hợp lại nghe Ngài thuyết một bài Pháp ngắn. Sau thời Pháp, Đức Phật ban lễ qui y Tam Bảo, truyền Ngũ Giới và nếu có vị nào đạt đến trình độ tinh thần đầy đủ, Ngài chỉ dẫn vào Thánh Đạo – Con Đường Giải Thoát. Một vài vị đến gần xin đề mục thiền định thích hợp theo tâm tánh mình. Nếu có lời thỉnh nguyện, đôi khi Ngài cũng ban lễ xuất gia.
Buổi trưa
Sau khi giảng dạy hoặc kêu gọi chư vị đệ tử, Đức Phật lui về tịnh thất. Nếu muốn, Ngài nằm nghiêng mình bên mặt và định thần một lát. Lúc dậy, Ngài nhập Đại Bi Định (Maha Karuna Samapatti) và dùng Phật nhãn quan sát thế gian, nhất là các vị tỳ kheo đã đi vào rừng sâu hành thiền nơi vắng vẻ và các đệ tử khác ở xa, để hướng dẫn và khuyên dạy. Nếu có một vị ở xa cần hỗ trợ, Ngài dùng thần thông bay đến nơi để tế độ rồi trở về tịnh thất.
Vào buổi chiều, thiện tín kéo đến nghe Pháp. Do Phật nhãn Ngài nhìn vào khuynh hướng và tâm tánh của từng người trong cử tọa để thuyết Pháp độ một tiếng. Mỗi người nghe, dầu tâm tánh và tình cảnh hoàn toàn khác biệt, đều có cảm tưởng rằng bài Pháp của Đức Phật đặc biệt hướng về mình. Đó là phương pháp giảng dạy của Đức Phật. Ngài thường dùng những thí dụ, những hình ảnh hay những bài ngụ ngôn có liên quan đến đời sống hằng ngày trong nhà để giải thích giáo lý và Ngài nhằm vào trí thức hơn là tình cảm.
Đối vời người thuộc hạng trung bình, Đức Phật bắt đầu giảng về hạnh bố thí, giới luật và hạnh phúc ở các cảnh Trời. Đối với người tiến bộ hơn, Ngài đề cập đến mối nguy hại của thú vui vật chất và hạnh phúc của sự từ khước, sự thoát ly. Với các vị đã đạt đến trình độ cao thượng, Ngài giảng về pháp Tứ-Diệu-Đế.
Trong một vài trường hợp hiếm hoi – như trường hợp Angulimala và bà Khema – Đức Phật dùng đến oai lực thần thông để ảnh hưởng đến tâm người nghe.
Cả hai lớp người, giàu và nghèo, cao sang và thấp kém, đều từ bỏ đức tin cũ của mình để hướng về Thông Điệp Hòa Bình của Đức Phật.
Canh đầu

Từ sáu đến mười giờ đêm là khoảng Đức Phật dành riêng để các vị tỳ kheo được tự do thỉnh cầu Ngài giải đáp những mối hoài nghi của mình, hỏi Ngài về những điểm phức tạp trong Giáo Pháp, xin Ngài đề mục thiền định và nghe thuyết Pháp.
Canh giữa
Từ mười giờ đến hai giờ khuya, chư Thiên và chư Phạm Thiên là những chúng sanh mà mắt người không thể trông thấy, từ các cảnh Trời, đếu hầu Phật và hỏi Ngài về Giáo Pháp. Trong Kinh Sách có một đoạn thường được nhắc đi lập lại như sau: “Lúc bấy giờ đêm đã khuya, một vị Trời có hào quang rực rỡ đến gần Đức Phật, cung kính đảnh lễ và đứng lại một bên”. Nhiều bài kinh và nhiều lời vấn đáp được ghi trong tập Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ).
Canh cuối cùng
Canh cuối cùng trong đêm, từ hai giờ khuya đến sáu giờ sáng, được chia làm bốn phần. Trong phần đầu tiên, từ hai đến ba giờ. Đức Phật đi kinh hành. Từ ba đến bốn giờ, Ngài nằm định thần, nghiêng về phía tay mặt. Từ bốn đến năm giờ, Ngài nhập Đại Bi Định (Mahà Karunà Samapatti), rãi tâm từ khắp nơi và làm êm dịu tâm trí tất cả chúng sanh. Sau đó Ngài quan sát thế gian bằng Phật nhãn xem coi có thể tế độ ai. Những người đạo hạnh và những người cần đến Ngài, dầu ở cách xa thế nào Ngài cũng nhận ra và mở lòng bi mẩn, Ngài tự ý đến để đem lại sự hỗ trợ tinh thần cần thiết.
Trích: “Đức Phật và Phật Pháp”, Phạm Kim Khánh chuyển dịch, Sài gòn 1970
Lời bàn
Nhìn vào thời khóa rất quy củ và mực thước này,chúng ta thực sự phải kính phục Đức Như Lai vì suốt 49 năm Ngài chưa từng để việc hành trì xao lãng. Và phải chăng, chúng ta lại càng nên ngưỡng mộ Ngài hơn khi trong sự khuôn phép ấy, Ngài luôn được thảnh thơi, chứng nghiệm hạnh phúc Niết Bàn trong từng hơi thở. Dù là đang làm bất cứ điều gì, dù tham thiền nhập định, cho đến thuyết pháp giảng kinh, Ngài đều hướng tâm từ về khắp chúng sanh, mong chúng sanh được hạnh phúc, an lạc.
Chúng ta, người Phật tử, là con của Đức Từ Phụ, nên nhìn lên đấng cha lành mà học sống an lạc vui vẻ trong giới luật. Ngũ giới, là giới luật căn bản và quan trọng dành cho người cư sĩ tại gia. Cao hơn nữa là thập giới, bồ tát giới. Hơn nữa là giới luật dành cho hàng xuất gia, tỳ kheo 250 giới, tỳ kheo ni 348 giới. Tuy giới luật có ít, có nhiều, nhưng chung quy cũng đều hướng con người về nếp sống thiện lành, hạnh phúc. Chúng ta nếu có thể thấy rõ lợi ích và bản chất của giới luật, thì sẽ thấy chúng không còn là sợi xích trói buộc mình mà là phương tiện giúp ta có được cuộc sống an vui, lợi ích.